Màu sắc trong hội họa trang trí chùa Khơme Nam Bộ

Ngôi chùa Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long là một công trình kiến trúc có nhiều giá trị về mặt thẩm mỹ, là không gian thiêng liêng nhất tập hợp khả năng kinh tế, chính trị, văn hóa nghệ thuật. Ngoài chức năng thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt của đời sống, ngôi chùa Khơme còn có khả năng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ cho nhân dân. Ngôi chùa là một tập hợp toàn vẹn nhất của các yếu tố tạo hình, kết chặt và hỗ trợ lẫn nhau trong một thể thống nhất.

Đóng góp dựng chùa, nuôi chùa coi như một khoán ước đảm bảo hạnh phúc cho cuộc đời hiện tại và vĩnh hằng mai sau, bởi vậy, người Khơme không tiếc công sức cho nhà chùa, tất cả vật liệu quý cùng với sự khéo léo của đôi tay đều dành cho chùa, vì thế mà tự nhiên chùa trở thành trung tâm của phum, sóc.

Người Khơme là một tộc người có biệt tài nghệ thuật, với một bản năng hiệu nghiệm về hình dáng, một sự nhạy cảm chắc chắn về trang trí, một khiếu thẩm mỹ hết sức độc đáo. Nghệ thuật chạm nổi, với những bức chạm sinh động trên những cánh cửa chùa Kl’eang (Sóc Trăng), trên các đầu hồi chùa, trên các mi cửa… cùng với nghệ thuật tượng tròn gồm tượng thần, Phật, người đồng hóa với thần, tượng thú (rắn từ ba đến chín đầu, sư tử, voi...), thể hiện rõ sự phát triển sớm về tư tưởng thẩm mỹ cũng như chất lượng nghệ thuật và nghệ thuật chạm khắc, tạc tượng của nhân dân Khơme từ bao đời nay.

Nghệ thuật kiến trúc Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long còn lưu lại đến ngày nay tập trung vào hơn 600 ngôi chùa cổ kính ẩn hiện dưới cây dừa xanh tốt. Nhiều ngôi chùa có niên đại rất sớm như: chùa Âng, chùa Samrôngêk, chùa Phướng ở Trà Vinh, chùa Kl’eang ở Sóc Trăng có niên đại khoảng 4 đến 6 trăm năm trở lại đây và nhiều chùa có niên đại muộn hơn được xây dựng theo một nguyên tắc nhất định, nhưng tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng phum mà có sự lớn nhỏ khác nhau.

Trong ngôi chùa, không chỉ điêu khắc - trang trí mới làm nổi bật lên tinh thần thẩm mỹ mà hội họa cũng góp phần không nhỏ trong tinh thần đó.

Những bức tranh trong chính điện được lấy cảm hứng từ đề tài Phật thoại, nói về cuộc đời của đức Phật từ khi sinh ra đến khi vào cõi niết bàn. Ngoài ra còn có những tích truyện trong dân gian, thần thoại như: anh hùng ca Riêmkê, những cảnh triết lý về cuộc đời, những cảnh sinh hoạt trong cuộc sống.

Hội họa ở đây có nhiều hình thức khác nhau, nhưng có thể chia làm hai loại chính: Loại tranh truyện kể thể hiện đề tài Phật giáo, thần thoại, chiếm hầu hết diện tích các mặt tường của chính điện. Loại hoa văn trang trí gồm những khung trang trí hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, các hình thiên thần, vũ nữ, rồng rắn, các loại hoa văn... Những môtíp này được thể hiện đa dạng và phong phú. Hầu hết các bích họa trong chùa thường vẽ về đề tài Phật giáo, tiểu sử đức Phật và có ghi chú từng cảnh một. Ngoài ra còn có những bức tranh phản ánh triết lý nhân sinh, nguyên lý nhân quả của Phật giáo, cho ta thấy cái nhìn mộc mạc của người Khơme về cuộc đời, về vũ trụ quan cũng như sinh hoạt hàng ngày gắn liền với một đức tin trong sáng.

Nội dung các đề tài, chủ đề đều lấy tâm điểm ca ngợi sự toàn năng, toàn diện, những triết lý thâm sâu của đức Phật. Những nhân vật trong trường ca Riêmkê như: Preah Ream, Sêda, Hanuman, Chằn, Tiên… biến thành những môtíp độc đáo. Với loại hoa văn trang trí, thường lấy từ thiên nhiên phong phú, những đóa hoa sen, hoa reang, hoa mai, các lá bồ đề, hoa cúc… đều được thể hiện với một trình độ cao bằng những màu sắc rực rỡ. Sự tự do không hạn chế các màu, nhưng ở đây chỉ có 6 màu được chuyên dùng. Đây là 6 màu cờ của Phật giáo và cũng tượng trưng cho mỗi kiếp của Phật. Màu xanh lam: nói về cuộc đời đức Phật khi còn là Bồ tát đã ra tay cứu độ chúng sinh. Màu trắng: có ý nghĩa trong kiếp này Phật cưỡi voi trắng đi gây mưa cứu nạn chúng sinh. Màu cá vàng: tượng trưng cho lòng hỉ xả khi ma quỷ muốn ăn thịt, Phật đã róc thịt mình cho ma quỷ ăn. Màu đỏ: là màu máu, kể lại chuyện trong một kiếp khác Phật đã mổ ngực mình để lấy trái tim làm thuốc khi mẹ bị rắn cắn. Cuối cùng là màu ánh lửa: thể hiện trên lá cờ là sự sắp xếp năm màu trên liền nhau theo hàng dọc, màu này nói lên một kiếp của Phật khi còn là con thỏ đã hy sinh nhảy vào lửa nướng mình dâng cho Đế Thích thể hiện sự bố thí tuyệt đối của Phật.

Ngày nay, các bức họa ở các chùa Khơme hầu hết được sửa chữa hoặc vẽ mới với các màu nguyên chất ít pha trộn. Họ rất thích sử dụng màu phản quang phối hợp với nhau trong tranh, ít dùng lối chuyển sắc độ theo sự chủ sắc hay trọng tâm, nên màu sắc trong tranh thường sặc sỡ. Nhìn chung lối hội họa trong chùa Khơme vẫn đem lại sự hấp dẫn, phản ánh cá tính, tình cảm của người vẽ cũng như thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân Khơme.

Có thể nói, trải qua hàng thế kỷ, với bao nhiêu tiếp biến văn hóa và chính trị, cùng những biến động to lớn của lịch sử, hai màu vàng và đỏ trong quan niệm thẩm mỹ, văn hóa của người phương Đông dường như là một nét tinh thần đặc biệt. Nó như ăn vào máu của người phương Đông, đặc biệt là người Trung Hoa, người Việt Nam cùng một số quốc gia khác bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa. Tôi còn nhớ một câu nói của giáo sư Đặng Quý Khoa rằng: "Khả năng cảm nhận của người phương Đông về các tông màu nóng, chẳng hạn như tông màu vàng hay tông màu đỏ thường dễ hơn là các tông màu lạnh". Tôi cho điều này là đúng, bởi vì, như đã thấy, hầu hết trong các công trình kiến trúc cổ cũng như mỹ thuật cổ đều sử dụng tông màu nóng, mà hai màu chính thường được sử dụng rất nhiều là vàng và đỏ và cố định về màu sắc như vậy hàng thế kỷ, vì thế mà nó đã ảnh hưởng sâu vào tâm thức của con người. Mặc dù các tông màu lạnh cũng được sử dụng, nhưng thường thì rất hạn chế: màu xanh lam hay màu xanh ngọc thường được trang trí cho trần nhà của cung thất, hay một số những đồ dùng nhằm tạo cảm giác mát mẻ thư giãn.